Nguyễn Đình Thi với cha tôi - nhà văn Nguyễn Huy Tưởng In E-mail
TIN TỨC - Chân dung văn học
26/08/2008

anht---ndt_1.jpgNhà văn Nguyễn Đình Thi (trái) và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng những ngày đầu sau Cách mạng ở Hà Nội.

Hóa ra, tôi từng gặp nhà văn Nguyễn Đình Thi nhiều hơn là mình nghĩ. Gặp ở ngoài đời - những lần chú Thi đến chơi nhà, những lễ tưởng niệm, những buổi nói chuyện văn nghệ...


Gặp trên trang sách, trên sân khấu - những gì chú Thi viết mà chúng tôi say sưa đọc, những kịch của chú Thi mà chúng tôi thích thú xem. Nhưng nhiều hơn cả là gặp trên các trang nhật ký của cha tôi. Trong nhật ký của cha tôi - nhà văn Nguyễn Huy Tưởng - cái tên Nguyễn Đình Thi bắt đầu xuất hiện từ năm 1943, và từ đó luôn thường xuyên hiện diện. Có khi ông viết kỹ, có khi chỉ đôi ba dòng, nhưng bao giờ cũng với giọng thân quen gần gũi.

Năm 2006, Nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản trọn bộ Nhật ký của cha tôi. Là người biên soạn bộ sách, tôi có trách nhiệm đưa ra một văn bản thật sự khách quan, đúng tinh thần của người viết. Với những gì cha tôi viết về nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng vậy, ngay cả khi giữa hai ông có sự không thuận. Chẳng hạn, trong thời kỳ Nhân văn Giai phẩm, cha tôi đã rất khổ tâm trước việc hai người không thống nhất về quan điểm dẫn đến sự rạn nứt trong tình bạn: “Không có gì khổ bằng có những người bạn hiểu không đúng về mình. Quan hệ giữa ta và Thi kém đi, gần như không dung được nhau. Chờ đợi những ý kiến đối lập. Lạnh lẽo. Thi có vẻ khinh mình và tự coi như Thi mới là đúng” (nhật ký 9/12/1956).

Sách ra được một thời gian, một đài phát thanh nước ngoài đã phỏng vấn tôi, trong đó có một câu riêng về quan hệ của cha tôi với nhà văn Nguyễn Đình Thi. Tôi đã trả lời rằng, trong suốt cuộc đời, nếu như người ta có lúc này lúc khác nghĩ không tốt về nhau thì cũng là chuyện bình thường. Điều quan trọng là cái cốt lõi còn đọng lại. Riêng tôi, trong nhật ký của cha mình, ấn tượng nhất về chú Thi có lẽ là câu này, viết trong một ngày kháng chiến ông đi công tác xa về lại cơ quan thì được tin bạn đã đầu quân: “Thi đi bộ đội rồi. Bàng hoàng nhớ Thi” (nhật ký 21/3/1953). Giữa biết bao nhiêu “ấn tượng” Nguyễn Đình Thi, tại sao một sự bàng hoàng nhớ bạn của cha tôi lại khiến tôi nhớ thế, điều này tôi vẫn không lý giải được. Nhưng sự thực đúng là như vậy...

Cha tôi ở lần gặp chú Thi đầu tiên, ngày 24/7/1944, có lẽ cũng đã cảm thấy bàng hoàng, như ông có ghi lại trong nhật ký: “Nguyễn Đình Thi, trẻ tuổi, thở ra sức khỏe và tự tin, đến chơi tìm Nguyễn Hữu Đang. Không để ý gì đến mình”. Bấy giờ nhà văn (tương lai) Nguyễn Đình Thi vừa tròn 20 tuổi, còn cha tôi thì đã 32. Một năm sau, cả cha tôi và chú Thi được cử đại diện cho Văn hóa cứu quốc, đi dự Quốc dân đại hội Tân Trào. Một năm sau nữa, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, cha tôi và nhà văn Nguyễn Đình Thi được đoàn thể giao tổ chức đưa đoàn văn nghệ sĩ lên chiến khu tham gia kháng chiến. Khi đã thân với nhau rồi, cha tôi mới rõ đằng sau cái vẻ tự tin của chú Thi là cả một tâm hồn nhạy cảm và cũng nhiều băn khoăn. Sự băn khoăn trước hết là ở chính công việc sáng tác cá nhân, như cha tôi đã phác họa về ông trong bài Các văn nghệ sĩ với cuộc thi Việt Bắc kháng chiến: “Tôi biết anh đau khổ lắm. Đau khổ vì sáng tác. Lo đứng lo ngồi để có tác phẩm dự thi. (...) Anh loay hoay mãi. Anh ngồi trước bàn. Anh hút thuốc lào. Anh nhai kẹo vừng. Anh ra phản nằm ngửa mặt nhìn lên mái lá. Mái lá có gì đâu? Anh nằm sấp người. Đầu gục xuống im lìm. Chỉ thấy một đống tóc. Lông mày rậm, râu ria tua tủa, tóc xùm xòa rủ xuống bờ tai. Có lẽ đấy là một nhà nhập thiền, chim đang làm tổ trên tóc, chứ không phải là Nguyễn Đình Thi. Bỗng anh vùng lên, anh ngâm thơ. Anh đi đi lại lại trong nhà, anh hát.

Tôi chưa biết anh chọn hình thức văn chương nào để dự thi. Chỉ biết là anh đau khổ lắm. Nhạc, tùy bút, truyện ngắn, truyện dài, rỡn múa trong đầu anh; mỗi con ma ấy đòi lấy phần mình.

Đêm nay, không, quá đêm rồi, gần sáng, mưa như trôi cả núi rừng. Ngọn đèn hoa kỳ leo lét. Mớ tóc bù, bộ lông mày rậm và bụi râu ria đang hý hoáy viết trước bàn. Cuộc thi Việt Bắc đã có một tác phẩm của anh. Ấy là một tập thơ” (Văn nghệ số 2, 1948).

Câu kết ở đoạn văn trên dường như cũng báo trước một hướng đi có phần tập trung hơn và cũng nhiều sáng tạo của chú Thi trong những năm đầu kháng chiến. Chỉ sau một thời gian, ông đã tạo dựng được một giọng điệu thơ riêng, hay như bây giờ ta thường nói, một thương hiệu: “thơ không vần Nguyễn Đình Thi”. Tại Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc mùa thu năm 1948, người ta đã dành hẳn một buổi để thảo luận về nó. Cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi, với nhiều ý kiến khen chê mà chê là chính. Như ý kiến của nhà thơ Xuân Diệu chẳng hạn: “Tôi không tán thành hình thức và nội dung toàn bộ thơ anh Thi”. Trong không khí của hội nghị, tác giả Nguyễn Đình Thi đã chân thành phát biểu: “Tôi đồng ý phần lớn những lời phê bình. Nhưng nói đến thơ, đó là một cái thiết tha nhất của tôi, và cũng là cái tìm tòi rất khổ của tôi (tuy nó có cái vui của nó)”. Về phần mình, cha tôi nhận xét không chỉ riêng về thơ, mà trước hết ông chia sẻ với cuộc sống nội tâm không dễ gì của bạn: “Tôi luôn luôn ngắm anh Thi. Ở hội nghị, anh ngang tàng, ở nhà anh lại hết sức cô đơn”. Và ông không giấu giếm tình cảm đối với bạn: “Giữa anh Thi và tôi có một sự đồng lõa, vì tôi cũng thích thơ không vần. Nên anh Thi bị công kích, tôi thấy tôi cũng bị công kích, và khen anh Thi thì tôi cũng được khen”. Dẫu sao, ông cũng thấy cần chỉ ra sở trường sở đoản của bạn, như ông vẫn quen làm với bất cứ ai khi động đến chuyện sáng tác, quan niệm về sáng tác: “Thơ anh như hạt ngọc lung linh chứ không phải dòng suối lôi cuốn người ta đi... Anh Thi chỉ thành công khi nào anh không phải quay cuồng với chính mình, mà đi gần đại chúng để phát biểu tiếng nói của đại chúng”. 

Đó là cha tôi với Nguyễn Đình Thi. Còn chú Thi với cha tôi thì sao? Năm 1946, cha tôi xuất bản vở kịch Bắc Sơn, cuốn sách đầu tiên của ông dưới chế độ mới. Lời “Tựa” vở kịch in trang trọng ở đầu sách là của Nguyễn Đình Thi. Có thể, những lời đánh giá về tác phẩm còn khá dè dặt - điều này cũng dễ hiểu: sách mới ra, các ông lại cùng trong Văn hóa cứu quốc với nhau, nói quá lên, mang tiếng chết! - nhưng nỗi niềm sẻ chia của người viết thì thật đáng cảm động: “Bắc Sơn là một bước đầu, một sự tìm tòi và một thí nghiệm” và “cuộc tìm tòi của Nguyễn Huy Tưởng đã làm vững thêm lòng tin chung của chúng tôi và của những người rất đông, với chúng tôi hiện đang cùng cảnh ngộ”. Sau thành công của vở Bắc Sơn, đầu kháng chiến chống Pháp, cha tôi soạn vở Những người ở lại. Không rõ nhà văn Nguyễn Đình Thi đã góp với cha tôi những gì, chỉ biết khi sách được in ra, ở “Mấy lời của tác giả” cuối sách có những lời này: “... đặc biệt hai bạn Nguyễn Đình Thi, Đoàn Phú Tứ đã giúp nhiều ý kiến về phương diện xây dựng, bố cục, phân tích tâm lý nhân vật, nói chung, đã uốn nắn lại vở kịch vốn non nớt dưới tay người soạn”. Không, tôi không nghĩ ông khiêm tốn chỉ để mà khiêm tốn; ở đây có sự trân trọng thực sự những ý kiến đóng góp cho tác phẩm của mình.

Cũng với sự trân trọng đó, cha tôi sẽ còn tham khảo ý kiến nhà thơ Nguyễn Đình Thi khi viết Lũy Hoa. Bấy giờ là gần giữa năm 1959, cha tôi đi thực tế Điện Biên về, viết xong truyện dài Bốn năm sau lại bắt tay viết tiếp kịch bản điện ảnh Bảo vệ Thủ đô (tức truyện phim Lũy Hoa). Nhật ký của cha tôi cho biết, ông chỉ quyết định viết sau khi nhận được ý kiến đóng góp rất tốt của chú Thi. Và ông nhớ lại: “Rút lại, những cái ý kiến giúp mình thường vẫn ở Nguyễn Đình Thi" (27/4/1959).

Ngày 25/7/1960, cha tôi qua đời. Đám tang ông được tổ chức trang trọng, do Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Đình Thi vừa làm Trưởng ban tổ chức lễ tang, vừa là người đọc điếu văn. Lời điếu có nhiều câu thật xúc động, nhưng tôi nhớ nhất câu này của chú Thi: “Không bao giờ nhiều lời huênh hoang, anh đã hiểu sâu sắc cái sứ mệnh của người viết văn và cái trách nhiệm của nghề cầm bút, nó là cái nghề xây dựng tâm hồn nhưng cũng có thể phá phách tâm hồn con người. Vì vậy anh thật thà với từng ý nghĩ, với từng dòng chữ viết ra. Anh có thể có lúc lầm lẫn nhưng ngòi bút anh không bao giờ chịu viết một lời dối lừa”.

Khỏi phải nói, cha tôi mất đi là một mất mát không gì bù đắp nổi cho gia đình chúng tôi. Lúc bấy giờ mẹ tôi còn chưa đi làm, trong sáu chị em chúng tôi, chị lớn nhất đang học đại học ở nước ngoài, chị thứ hai thì còn chưa tốt nghiệp phổ thông. Sở dĩ chúng tôi vượt qua được những ngày khó khăn ấy là nhờ có Hội Nhà văn luôn quan tâm giúp đỡ, mà với gia đình chúng tôi, Hội Nhà văn gần như đồng nghĩa với chú Thi. Chú Thi giải quyết cho mẹ tôi vào làm ở Hội, lo thủ tục giúp chúng tôi có được tiền tuất của cha tôi, đặc biệt, chú đã cùng các bạn văn khác của cha tôi lo xuất bản các bản thảo chưa in của ông. Trong số đó có tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô!...

Tôi xin không đi sâu vào những tình tiết này vì ít nhiều chúng đều có tính cách riêng tư. Điều tôi muốn nói là, không chỉ lúc bấy giờ mà mãi về sau này, nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn luôn nhớ đến cha tôi. Đầu tháng 5/1992, báo Văn nghệ có tổ chức lễ tưởng niệm nhân 80 năm ngày sinh người. Đến dự có nhiều văn nghệ sĩ và bạn của cha tôi - nữ nghệ sĩ Song Kim, các nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi, các nhà văn nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, Kim Lân, Phạm Hổ, Vũ Tú Nam, Hữu Thỉnh... và đương nhiên, nhà văn Nguyễn Đình Thi. Nhiều người đã phát biểu về nhiều khía cạnh, chủ yếu là những kỷ niệm văn nghệ. Riêng nhà văn Nguyễn Đình Thi lại quan tâm đến vấn đề khác. Như phóng viên đã ghi lại, ông nói: “Tôi muốn nhắc lại những kỷ niệm về anh Tưởng với tư cách là một con người hoạt động xã hội. Khi Văn hóa cứu quốc bị khủng bố, anh Tưởng là người kiên trì, đứng trụ. Sau Cách mạng tháng Tám, anh Tưởng là người được Đảng giao cho nhiều việc quan trọng... Các hồi ký viết về anh, đặc biệt là thời kỳ hoạt động cách mạng trước 45, theo tôi là chưa có sự công bằng”. Và đúng như chú Thi mong muốn, “rồi đây sẽ có thêm nhiều hồi ký điều chỉnh lại những gì chưa thỏa đáng”, tôi nhận thấy về sau người ta có chú trọng hơn đến khía cạnh này. Hàng loạt hồi ký, chuyên luận đã cho thấy ngày càng rõ hơn vai trò to lớn của cha tôi trong việc xây dựng nền văn hóa văn nghệ mới, độc lập, dân chủ và tiến bộ.

Tuy vậy, khẳng định trên giấy là một chuyện, còn việc đãi ngộ trên thực tế lại là chuyện khác. Gần đây, nhân kỷ niệm 60 năm Hội Văn Nghệ Việt Nam, được gặp nhiều gia đình văn nghệ sĩ lão thành, tôi mới ngớ ra cha tôi thuộc... số ít người hoạt động trước 45 chẳng hề được (truy) tặng huân chương bậc cao nào, như Huân chương Độc lập, Huân chương Hồ Chí Minh mà nhiều người hoạt động cùng, thậm chí sau cha tôi cũng đã được nhận. Lại còn chuyện này nữa, cách đây mấy năm Nhà nước có chính sách hỗ trợ nhà đất cho cán bộ lão thành cách mạng. Tôi, vì trách nhiệm trước gia đình, đã tìm đến các cấp có thẩm quyền để hỏi về trường hợp của cha tôi. Ở một cơ quan nọ, người ta hỏi tôi về quyết định công nhận lão thành cách mạng của cha tôi. Tôi nói cha tôi mất lâu rồi, hồi ấy chưa có chủ trương làm quyết định công nhận lão thành cách mạng. Nhưng nếu các anh muốn, tôi có thể đưa ra rất nhiều văn bản ghi nhận cha tôi hoạt động trước 45, thậm chí từ 43, khi tham gia Văn hóa cứu quốc (trong thâm tâm tôi đã nghĩ ngay đến lời phát biểu của chú Thi). Người đại diện cơ quan công quyền liền nói: "Tôi biết, tôi có biết chứ cụ nhà hoạt động từ trước Cách mạng. Nhưng về nguyên tắc, vẫn phải có quyết định, anh ạ".

Tôi: "Vâng, thế thì chịu rồi". (Giá như bây giờ thì tôi đã nói: “Vâng. Thế là bó tay chấm com!”)


Nguyễn Huy Thắng

 
< Trước   Tiếp >
 

Ảnh Khoảnh Khắc

Màu thời gian
Màu thời gian

Trang Bạn





Thống kê

Hôm nay: 39
Hôm qua: 231
Tổng số: 46823
Trang hôm nay: 125
Trang hôm qua: 1144

Tư liệu

Cung cấp tin RSS

RSS 1.0
RSS 2.0
ATOM 0.3
OPML