Đăng nhập



Bạn đọc mới gửi

Marley và tôi PDF. In Email
TIN TỨC VĂN HỌC - Thời sự văn học

Nó xô vào cửa lồng, sủa ăng ẳng không tỏ vẻ sợ sệt. Nó nhảy cẫng lên, thích thú liếm ngón tay tôi qua lưới chắn. Đó thực là tình yêu sét đánh.

Cuốn tiểu thuyết Marley and me: Life and Love with the World’s Worst Dog (Marley và tôi: Cuộc sống và tình yêu với con chó tồi tệ nhất thế giới) của nhà văn John Grogan được dịch ra 40 thứ tiếng và chuyển thể thành công lên màn ảnh. eVan.vnexpress.net xin trích đăng cuốn tiểu thuyết vui nhộn, nhẹ nhàng và giàu cảm xúc về cuộc sống này.

Lời nói đầu

Con chó hoàn hảo

* *

Mùa hè năm 1967, khi ấy tôi mới mười tuổi. Cuối cùng trước những lời van nài dai dẳng của tôi, bố cũng phải đầu hàng và cho tôi sở hữu một con chó của riêng mình. Chúng tôi đánh chiếc xe chở hàng của nhà tới vùng nông thôn Michigan, nơi có trang trại của một người phụ nữ thô kệch cùng bà mẹ già. Trang trại chỉ cung cấp duy nhất các loại chó nhà. Những con chó đủ mọi kích cỡ, hình hài, độ tuổi hay tính khí. Chúng chỉ có hai điểm chung: một là con lai không rõ dòng giống, còn hai là miễn phí với những gia đình tốt. Chúng tôi đã tới một trại nuôi chó lai.

- Bây giờ, cứ từ từ mà chọn, con trai. Quyết định hôm nay của con sẽ sống cùng con nhiều năm nữa đây. - Bố nói.

Tôi nhanh chóng xác định những con chó lớn hơn chắc đã thuộc về những cơ sở từ thiện của ai đó. Ngay lập tức tôi chạy tới chuồng chó con.

- Con nên chọn một con không nhút nhát. Thử lắc mạnh lồng xem con nào không sợ hãi - Bố tôi dạy.

Tôi tóm lấy dây xích ở cửa lồng, giật rầm rầm. Cả tá chó con loạng choạng lùi lại, con nọ đè lên đầu con kia, thành một đống nhung nhúc lông lá. Chỉ còn duy nhất một con trụ lại. Nó màu vàng, có vệt lang trắng trước ngực. Nó xô vào cửa lồng, sủa ăng ẳng không tỏ vẻ sợ sệt. Nó nhảy cẫng lên, thích thú liếm ngón tay tôi qua lưới chắn. Đó thực là tình yêu sét đánh.

Tôi mang nó về nhà trong một cái hộp các- tông, đặt cho nó cái tên Shaun. Nó là một trong những con chó đã cho loài chó một cái tên hay. Nó mau chóng nắm vững tất cả những mệnh lệnh tôi dạy và xử sự rất tốt. Tôi có thể đánh rơi mẩu bánh mỳ xuống sàn, nó sẽ không động đến cho tới khi tôi cho phép. Nó chạy đến mỗi khi tôi gọi, ở nguyên đó khi tôi bảo làm thế. Chúng tôi có thể thả nó ra ngoài một mình ban đêm, biết chắc rằng nó sẽ quay về sau khi lượn một vòng. Thi thoảng, chúng tôi có thể nhốt nó ở nhà một mình hàng giờ, tự tin nó sẽ không gặp tai nạn hay phá phách thứ gì đó. Nó chạy đua với ô tô nhưng không đuổi theo chúng, thả bộ bên cạnh tôi mà không cần buộc xích. Nó có thể nhảy xuống hồ nước nhà tôi rồi ngoi lên với những hòn đá to, lắm khi mắc kẹt trong hàm. Với nó không có gì vui hơn việc được đi xe ô tô, ngồi im ở ghế sau bên cạnh chúng tôi trong các chuyến dã ngoại của nhà, hài lòng ngó ra ngoài cửa xe, ngắm nhìn hàng giờ khung cảnh thế giới bên ngoài đang trôi đi. Có lẽ điều tuyệt nhất là tôi đã dạy nó kéo tôi quanh khu theo kiểu xe chó kéo, trong khi tôi ngồi trên xe đạp. Điều này làm đám bạn phải ghen tị với tôi. Chưa một lần nào nó đẩy tôi vào nguy hiểm.

Nó ở bên khi lần đầu tôi hút thuốc (cũng là lần cuối cùng của tôi), và cả khi tôi lần đầu hôn bạn gái nữa. Nó đã ở ngay đó, bên cạnh tôi, trên ghế phụ khi tôi lần đầu lén lấy trộm chiếc Conrvair của anh trai để đi chơi.

Shaun mạnh mẽ nhưng biết kiềm chế, rất tình cảm nhưng điềm tĩnh. Thậm chí nó còn có lối cư xử nhã nhặn cao quý, lùi vào bụi rậm trước khi ngồi xổm làm nhiệm vụ cá nhân, chỉ thò mỗi cái đầu ra ngoài. Nhờ có thói quen sạch sẽ này mà chúng tôi có thể an tâm dạo chân trần trên bãi cỏ.

Họ hàng tới thăm vào cuối tuần rồi về nhà, cũng quyết mua một con chó. Họ cực kỳ ấn tượng với Shaun - còn gọi là "Thánh Shaun" (Saint Shaun), mỗi khi tôi gọi nó. Đó chỉ là một câu đùa trong nhà, chuyện phong thánh, nhưng hầu như chúng tôi đều tin thế. Sinh ra với lời nguyền của dòng dõi vô danh, nó là một trong hàng chục nghìn những con chó chẳng ai đoái hoài ở nước Mỹ. Nhờ một chút may mắn, nó đã được để mắt tới. Nó bước vào đời tôi và tôi cũng bước vào đời nó. Khi ấy, nó đã cho tôi tuổi thơ mà mỗi đứa trẻ đều xứng đáng được hưởng.

Mối tình ấy kéo dài mười bốn năm. Khi nó chết, tôi đã không còn là một thằng bé con mang nó về nhà vào cái ngày hè ấy. Tôi đã là một người đàn ông, tốt nghiệp đại học và nhận việc đầu tiên ở bang. Saint Shaun đã ở lại khi tôi đi. Nó thuộc về nơi ấy. Bố mẹ, lúc đó đã nghỉ hưu, gọi báo tin cho tôi. Mẹ sau này có nói với tôi:

- Suốt năm mươi năm lấy nhau, mẹ chỉ thấy bố con khóc duy nhất hai lần. Lần đầu là khi chúng ta mất Mary Ann (chị gái tôi, bị sinh non). Lần thứ hai là ngày Shaun chết.

Saint Shaun của tuổi thơ tôi. Nó là một con chó hoàn hảo. Ít nhất là tôi sẽ nhớ nó biết nhường nào. Đó là Shaun, con chó đã dựng nên những chuẩn mực để tôi đánh giá tất cả những con chó khác sau này.

Tưởng nhớ tới cha tôi, Richard Frank Grogan.
Tinh thần dịu dàng của ông thắm đượm từng trang sách này.

Chương 1

Thêm Chó Con là thành Ba

Chúng tôi còn trẻ. Chúng tôi đang yêu. Chúng tôi đang nô đùa trong những ngày đầu tuyệt vời của hôn nhân với cuộc sống dường như không thể tốt đẹp hơn. Chúng tôi không thể chỉ hài lòng như thế.

Và rồi một tối tháng Một năm 1991, người vợ mới cưới mười lăm tháng cùng tôi dùng bữa tối và chụm đầu vào một quảng cáo rao vặt trên tờ Bưu Điện Palm Beach.

Sao chúng tôi lại làm chuyện này, tôi cũng không chắc nữa. Vài tuần trước, khi tỉnh dậy vào sáng sớm, tôi thấy giường bên cạnh mình trống trơn. Tôi dậy và thấy Jenny khoác áo choàng tắm ngồi ở bàn kính, ngoài hành lang có mái che ngôi nhà gỗ nhỏ của chúng tôi, đang dùng bút khoanh đánh dấu tờ báo.

Cũng chẳng có gì bất thường với cảnh đó. Tờ Bưu Điện Palm Beach không chỉ là tờ báo địa phương, mà còn là một nửa nguồn thu nhập của gia đình tôi. Chúng tôi vốn là đôi vợ chồng cùng làm báo. Jenny là biên tập viên mục "Điểm nhấn" của tờ Bưu Điện; còn tôi là phóng viên tờ báo cạnh tranh trong vùng, tờ Sun - Sensitel Miền Nam Florida. Tòa soạn của tôi nằm ở Fort Lauderdale, cách chừng một giờ đi xe. Chúng tôi khởi đầu mỗi sáng bằng việc nghiền ngẫm những tờ báo, xem bài của chúng tôi được đăng ra sao, được so sánh với đối thủ như thế nào.

Nhưng sáng nay, Jenny không chúi mũi đọc những trang mới mà lại đọc mục rao vặt. Khi lại gần, tôi thoáng thấy cô ấy luýnh quýnh khoanh dấu mục "Vật nuôi - Chó".

- E hèm… Có thứ gì anh nên biết không nhỉ? - Tôi nhẹ nhàng, giọng một anh chồng mới cưới.

Cô ấy không trả lời.

- Jen-Jen?

- Cái cây. - Cuối cùng thì cô ấy cũng đáp, giọng thoáng chút thất vọng.

- Cây á? - Tôi hỏi.

- Cái cây ngớ ngẩn đó, cái cây chúng ta đã giết ấy.

Cái cây chúng ta đã giết? Tôi không định nhấn mạnh điểm này, nhưng nói chính xác ra thì đó là cái cây tôi mua, còn cô ấy giết chứ. Một buổi tối, tôi đã dành cho cô ấy sự ngạc nhiên với nó, một cây vạn niên thanh dễ thương có những chiếc lá lốm đốm xanh lục và kem.

- Nhân dịp gì thế? - Cô ấy hỏi.

Chẳng gì cả. Tôi tặng nó cho cô ấy chẳng vì lý do nào cả, trừ khi định nói:

- Khỉ thật, cuộc sống hôn nhân này không tuyệt sao?

Cô ấy yêu cả hai, cử chỉ và cái cây, cảm ơn tôi bằng cách vòng tay qua cổ, rồi trao tôi một nụ hôn. Sau đó, rất nhanh chóng, cô ấy giết món quà tôi tặng với bản năng tàn nhẫn của một sát thủ. Không hẳn là cô ấy cố tình làm thế. Có thể cô ấy đã chăm bón cái cây tội nghiệp tới chết. Jenny không có khiếu chăm sóc cây lắm. Cứ cho là tất cả các vật sống đều cần nước, nhưng hình như quên béng mất chúng cũng cần không khí nên cô ấy bắt đầu tưới ngập cây vạn niên thanh mỗi ngày.

- Cẩn thận đừng làm úng nó! - Tôi đã cảnh báo.

- Được rồi. - Cô ấy đáp, và lại đổ thêm một ga-lông nữa.

Cái cây càng yếu, cô ấy càng tưới, tới khi nó biến thành một đống gì đó nhão nhão như bùn. Tôi nhìn bộ khung rũ rượi của nó trong bình hoa cạnh cửa sổ, thầm nghĩ, Ôi, ai mà tin vào các điềm báo, có lẽ phải có nguyên một ngày đáng nhớ với cái thứ này.

Giờ thì không biết thế nào cô ấy lại đang thay đổi chớp nhoáng từ thực vật chết trong cái bình sang động vật sống trong mục rao vặt thú nuôi. Giết một cái cây, mua một con chó. Hay đấy, một câu hoàn hảo.

Tôi lại gần hơn, ngó tờ báo trước mặt cô ấy và thấy một quảng cáo đặc biệt trông có vẻ đã cuốn hút vợ mình. Cô ấy đánh dấu ba ngôi sao đỏ chót bên cạnh nó. "Chó Lab con - màu vàng. AKC thuần chủng. Bố mẹ đều là chó nhà."

- Liệu… Em có thể trông nom cái món vật nuôi - cây trồng này cùng anh một lần nữa không? - Tôi ngập ngừng.

- Anh biết đấy. - Jenny ngước nhìn lên - Em đã nỗ lực rất nhiều, vậy mà xem chuyện gì xảy ra đấy. Thậm chí em còn không giữ cho một cái cây cảnh ngu xuẩn sống được. Ý em là, sao việc đó lại khó thế? Tất cả những gì cần làm chỉ là tưới cho cái thứ chết tiệt đấy thôi mà.

Cô ấy bắt đầu nói tới vấn đề thực sự:

- Nếu em không chăm nổi một cái cây sống, thì làm sao em có thể nuôi sống một đứa bé đây? - Trông cô ấy như sắp phát khóc.

Cái Thứ Đứa Bé, như tôi gọi nó, đã trở thành một hằng số trong đời Jenny và mỗi ngày một lớn hơn. Khi chúng tôi lần đầu gặp nhau, ở một tờ báo nhỏ miền tây Michigan, cô ấy mới tốt nghiệp đại học vài tháng. Cuộc sống trưởng thành nghiêm túc dường như vẫn là một khái niệm xa vời. Với cả hai chúng tôi, đó là công việc đầu tiên ngoài trường học. Chúng tôi chén no nê pizza, uống thật nhiều bia, và không mảy may nghĩ tới khả năng một ngày nào đó trở thành một người khác, thay vì những khách hàng trẻ tuổi, độc thân và hoàn toàn tự do của món pizza và bia.

Nhưng năm tháng qua đi. Chúng tôi vừa mới bắt đầu hẹn hò thì những cơ hội việc làm khác nhau, rồi khóa đào tạo sau đại học một năm của tôi, đã kéo chúng tôi rẽ theo hai ngả dọc miền Đông nước Mỹ. Ban đầu chúng tôi chỉ cách nhau có nửa giờ xe. Sau thành ba giờ. Rồi thì tám, và hai mươi tư giờ. Theo thời gian, cả hai chúng tôi cùng tới Nam Florida và quyết định cắm rễ ở đây. Cô ấy đã gần ba mươi. Bạn bè cô ấy đều đã con cái đầy đủ. Cơ thể đang gửi những thông điệp kỳ lạ cho chính cô ấy, rằng cánh cửa bất diệt của cơ hội sinh nở dường như đang chầm chậm khép lại.

Tôi quàng tay qua vai vợ, hôn lên tóc cô ấy.

- Ổn thôi mà em. - Tôi thì thầm.

Nhưng tôi cũng phải thừa nhận, cô ấy đã đưa ra một câu hỏi hay. Cả hai chúng tôi chưa bao giờ thực sự nuôi dưỡng một thứ trong đời. Dĩ nhiên rồi, chúng tôi vốn lớn lên cùng những vật nuôi, nhưng kỳ thực thì chuyện đó cũng không đáng tính lắm. Chúng tôi luôn biết bố mẹ sẽ chăm chúng sống khỏe mạnh. Cả hai chúng tôi hiểu một ngày mình sẽ muốn có con, nhưng liệu mình đã thực sự sẵn sàng cho việc đó chưa? Những đứa bé quả thực rất… rất… đáng sợ. Chúng không tự lực được, lại yếu ớt, cảm giác như dễ dàng vỡ vụn nếu bị đánh rơi.

Một nụ cười thoáng nở trên khuôn mặt Jenny:

- Em nghĩ có khi một con chó sẽ là bài thực hành tốt.

Chúng tôi lái xe qua màn đêm, thẳng hướng Tây Bắc ra khỏi thị trấn. Vùng ngoại ô West Palm Beach mờ dần trong khung cảnh miền quê trải dài. Tôi cứ nghĩ mãi về quyết định mang một con chó về nhà. Đó là một trách nhiệm khổng lồ, nhất là với hai người làm việc cả ngày. Giờ thì chúng tôi đã biết mình sắp sửa trải qua điều gì. Cả hai chúng tôi đều lớn lên cùng những con chó. Chúng tôi yêu chúng vô cùng. Tôi có Saint Shaun, còn Jenny cũng có Saint Winnie, con chó xù Anh Quốc rất được thương yêu của nhà cô ấy. Những hồi ức thơ ấu hạnh phúc nhất của chúng tôi hầu như đều có mặt những con chó đó. Trượt tuyết với chúng, bơi với chúng, chơi với chúng, gặp rắc rối cũng với chúng luôn. Nếu Jenny thực lòng chỉ muốn một con chó để rèn giũa kỹ năng làm mẹ, tôi sẽ cố gắng bình tĩnh trò chuyện và có thể xoa dịu cô ấy bằng một con cá vàng. Nhưng khi biết ngày nào đó mình muốn có con, chúng tôi đều hiểu rằng tổ ấm của mình không thể hoàn thiện mà không có một con chó nằm dài dưới chân. Hồi còn đang hẹn hò, rất lâu trước khi những đứa trẻ là mối quan tâm, chúng tôi đã dành hàng giờ trò chuyện về những con vật thời thơ ấu. Chúng tôi nhớ chúng biết bao, chúng tôi mong ngóng như thế nào một ngày lại nuôi một con chó, khi chúng tôi đã có một ngôi nhà riêng và ổn định cuộc sống.

Giờ chúng tôi đã có cả hai. Chúng tôi sống chung dưới một mái nhà, nơi chúng tôi không có ý định sớm chuyển đi. Và chúng tôi có một ngôi nhà - hoàn toàn là của chúng tôi.

Đó là một ngôi nhà nhỏ hoàn hảo trên một khoảnh đất rộng chừng một phần tư mẫu Anh, có hàng rào, cực kỳ thích hợp nuôi một con chó. Khu dân cư cũng rất ổn, một khu đô thị hiện đại, cách một lô rưỡi là tới Intracoastal Waterway, tách biệt West Palm Beach với những khu biệt thư riêng của Palm Beach. Ở cuối con phố nhà tôi, phố Churchill, một công viên cây xanh và con đường lát trải dài hàng dặm dọc theo khu bến tàu. Thật lý tưởng cho chạy bộ, đạp xe đạp và trượt pa-tanh. Hơn hết, là để dắt chó đi dạo.

Ngôi nhà được xây những năm 50, có vẻ quyến rũ của Florida cổ, với một lò sưởi, tường thạch cao thô nhám, cửa sổ lớn lộng gió, hành lang sau nhà có mái che. Khoảnh sân là một thiên đường nhiệt đới nho nhỏ, tràn ngập cọ, dứa, lê tàu và những cây húng chanh sáng màu. Nổi bật giữa mảnh đất là một cây xoài vươn cao vút. Mỗi hè, những trái chín nặng trĩu thi nhau rụng, tạo thành những tiếng thịch lớn, đến độ kỳ cục, nghe như tiếng người rơi xuống từ mái nhà. Chúng tôi nằm thức trên giường và lại nghe Thịch! Thịch! Thịch!

Chúng tôi mua căn nhà gỗ hai phòng ngủ, một phòng tắm chỉ vài tháng sau khi trở về từ tuần trăng mật. Ngay lập tức chúng tôi bắt tay trang trí lại ngôi nhà. Chủ cũ của nó là một nhân viên bưu điện nghỉ hưu sống cùng với vợ, những người rất yêu màu xanh lá cây. Vữa trát ngoài màu xanh lá. Tường trong nhà màu xanh lá. Màn cửa xanh lá. Cửa chớp xanh lá. Cửa trước xanh lá. Tấm thảm, thứ mới được sắm để dễ bán ngôi nhà, cũng xanh lá nốt. Không phải màu xanh rêu vui vẻ, xanh ngọc mát mẻ, hay thậm chí vàng chanh táo bạo, mà là một màu xanh-của-món-súp-đậu-hà-lan-nôn-ra-từ-trong-ruột cùng với đồ trang trí bằng ka-ki. Trông ngôi nhà không khác gì một trại lính dã chiến.

Đêm đầu tiên trong ngôi nhà, chúng tôi lật từng centimet tấm thảm xanh lá mới rồi kéo lê nó về phía chân tường. Chỗ tấm thảm lộ ra, chúng tôi thấy sàn lát gỗ sồi còn mới nguyên, phải nói là, chưa từng bị trầy một xíu vì dấu giày. Chúng tôi cẩn thận đánh bóng nó bằng cát và vec-ni tới mức sáng bóng. Rồi chúng tôi ra ngoài, bạo tay chi gần hai tuần lương để mua một tấm thảm Ba Tư dệt tay. Nhiều tháng sau, chúng tôi sơn lại mọi bề mặt xanh lá, thay luôn đủ thứ đồ đạc xanh lá. Căn nhà của ông nhân viên bưu điện dần dần cũng trở thành nhà của chúng tôi.

Khi chúng tôi sắp đặt mọi thứ ăn khớp với nhau, dĩ nhiên, chỉ còn mỗi việc có ý nghĩa là đem về nhà một anh bạn bốn chân, to lớn với móng chân sắc nhọn, răng bự, kỹ năng tiếng Anh cực kỳ hạn chế, để lại xé tan nát chúng ra.

- Từ từ thôi anh, không anh đi quá đấy. Vài giây nữa là tới rồi. - Jenny rầy rà.

Chúng tôi lái xe xuyên qua màn đêm, băng qua vùng vốn xưa kia từng là đầm lầy, được tháo nước sau Thế chiến Thứ Hai để làm ruộng, rồi sau đấy dân ngoại thành tới định cư hòng tìm kiếm cuộc sống yên bình ở nông thôn.

Khi Jenny nhắc, đèn pha xe tôi ngay lập tức rọi vào một hộp thư ghi đúng địa chỉ chúng tôi đang tìm. Tôi bẻ lái quặt vào con đường rải sỏi dẫn tới một khu nhà gỗ lớn. Có một ao nước phía trước ngôi nhà và một chuồng ngựa nhỏ phía sau. Ở cửa, một người phụ nữ trung niên tên Lori chào đón chúng tôi. Một con chó tha mồi lông vàng to lớn, bình tĩnh đứng ngay bên cạnh.

- Đây là Lily, bà mẹ đáng tự hào. - Lori giới thiệu, sau khi chúng tôi nói về mình.

Chúng tôi có thể thấy năm tuần sau khi sinh, bụng Lily vẫn còn to phình, các núm vú thì nổi rõ. Cả hai chúng tôi quỳ xuống. Con chó đón nhận thiện chí của chúng tôi. Nó chính là những gì chúng tôi hình dung về một con chó Lab – dịu dàng, tình cảm, điềm tĩnh và đẹp tuyệt vời.

- Con bố đâu rồi nhỉ? - Tôi hỏi.

- Ồ. - Người đàn bà nói, thoáng ngập ngừng giây lát - Sammy Boy hả? Chắc nó lại loanh quanh đâu đó đây mà.

Bà tay mau miệng nói thêm:

- Tôi tưởng anh chị đang muốn xem đàn chó con chứ.

Bà ta dẫn chúng tôi đi qua bếp, tới một phòng để dụng cụ được sắp xếp giống phòng dành cho trẻ. Ở góc phòng là một hộp dẹt, lót bằng khăn tắm biển cũ kỹ. Nhưng chúng tôi chẳng để ý đến mấy cái đó lắm. Làm sao chúng tôi có thể khi thấy chín chú chó con nhỏ xíu lông vàng đang đè lên nhau, kêu ầm ĩ để ghi danh với những vị khách muộn nhất ghé thăm? Jenny há hốc miệng kinh ngạc:

- Chúa ơi - cô ấy thốt lên - Em không nghĩ em từng được thấy thứ gì dễ thương như thế này trong đời.

Chúng tôi ngồi xuống sàn, để lũ chó con trèo cả lên người, trong khi Lily hạnh phúc nhảy nhót xung quanh, đuôi ve vẩy, mũi thúc thúc từng đứa con để chắc chắn tất cả vẫn ổn. Tôi đã thỏa thuận với Jenny trước khi đồng ý tới đây là phải kiểm tra xem xét đám chó con, hỏi vài câu, rồi xem liệu chúng tôi có sẵn sàng đưa một con về nhà hay chưa.

- Đây là quảng cáo đầu tiên mình xem thử. Đừng vội vàng quyết định. – Tôi nhắc.

Nhưng chỉ mất ba mươi giây, tôi biết mình đã thua trong cuộc chiến. Không còn nghi ngờ gì nữa, trước đêm nay, một con trong đám này sẽ là của chúng tôi.

Lori là một người nuôi chó để bán. Khi mua chó thuần chủng, chúng tôi thực ra chỉ là những tay học việc, nhưng dù sao cũng tìm hiểu, đủ để biết phải tránh xa những nơi gọi là trại nuôi chó. Đó là những nơi nuôi chó vì mục đích kiếm lời, cho ra đời hàng loạt những con chó nòi thuần chủng y như hãng Ford sản xuất xe Taurus. Nhưng ô tô còn sản xuất hàng loạt được, chứ những con chó nòi mà cho xuất chuồng hàng loạt thì có thể mắc phải những vấn đề di truyền nghiêm trọng, trải qua chứng loạn sản dẫn tới mù sớm, nguyên nhân là do giao phối giữa các thế hệ gần nhau.

Tuy nhiên, Lori cũng là một người có sở thích riêng, dành tình yêu cho việc chăn nuôi hơn là lợi nhuận. Bà ta chỉ nuôi mỗi một con đực và một con cái. Chúng có hai huyết thống khác nhau. Bà ta có giấy phép chứng minh chuyện này. Đây là lứa thứ hai, cũng là lứa cuối cùng trước khi Lori lui về để tận hưởng cuộc sống thôn dã yên bình của một người chăm thú nuôi. Với việc có cả con bố và mẹ trong nhà, người mua có thể trực tiếp thấy ngay nòi giống - dù trong trường hợp chúng tôi thì con bố hình như đã ra ngoài mất tiêu rồi.

Trong ổ có năm con cái, đều đã được đặt mua hết, trừ một con và bốn con đực nữa. Lori ra giá 400 đô-la cho con cái và 375 đô-la cho mỗi con đực. Một trong mấy con đực dường như đặc biệt thích thú với chúng tôi. Nó là con ngố nhất trong hội, nhảy xổ tới, lăn tròn vào lòng, rồi bám lên áo để liếm mặt chúng tôi. Nó gặm ngón chân chúng tôi bằng mấy chiếc răng sữa sắc nhọn đáng ngạc nhiên và nhảy tưng tưng quanh chúng tôi trên bốn cái chân vàng sậm, to bự, chẳng cân xứng tẹo nào với phần còn lại của cơ thể.

- Anh chị có thể lấy con đó với giá 350 đô-la. - Chủ nó nói.

Jenny vốn là người chuyên săn hàng hạ giá đến phát khùng. Cô ấy lôi đủ các thứ về nhà, những thứ chúng tôi không muốn, cũng chẳng cần, đơn giản chỉ vì chúng có giá hấp dẫn không thể bỏ qua được. "Em biết là anh không chơi gôn", có hôm cô ấy nói thế với tôi, trong khi lôi một bộ gậy đánh gôn cũ ra khỏi xe. "Nhưng anh sẽ không tin được giá em mua những thứ này đâu". Lúc này tôi thấy ánh mắt cô ấy sáng bừng lên:

- Anh yêu. - Jenny thủ thỉ - Gã tí hon này nằm trong diện thanh lý đấy!

Tôi phải thừa nhận là con chó trông thật đáng yêu. Cũng nghịch ngợm nữa. Trước khi nhận ra nó có đủ khả năng làm gì thì thằng oắt con đã gặm mất một nửa cái dây đeo đồng hồ của tôi.

- Mình phải làm bài kiểm tra độ sợ hãi đã. - Tôi từ tốn.

Hồi trước, nhiều lần tôi kể cho Jenny chuyện lúc còn bé tôi chọn Saint Shaun như nào. Bố tôi đã dạy tôi di chuyển bất ngờ, hoặc làm gì đó ầm ĩ để tách những con nhút nhát khỏi những con tự tin. Ngồi giữa đàn chó con, Jenny liếc mắt nhìn tôi, vẻ e dè trước lối cư xử kỳ cục của nhà Grogan.

- Thật đấy. Nó có tác dụng mà. - Tôi quả quyết.

Tôi đúng dậy, quay lưng đi xa khỏi lũ chó con. Sau đó tôi quay ngoắt người lại, bất thình lình bước một bước về phía chúng. Tôi giậm mạnh chân, quát to “Hây!” Chẳng con nào buồn bận tâm với những hành động kỳ cục này. Nhưng có duy nhất một con đâm đầu lao tới. Đó là Con Chó Thanh Lý. Nó lao hùng hục vào tôi, quẳng cả thân mình vào mắt cá chân rồi nhảy bổ vào dây giày tôi như thể chắc chắn chúng là những kẻ thù nguy hiểm cần phải tiêu diệt.

- Em nghĩ đây là định mệnh.

- Em nghĩ thế à? - Tôi nói, trong khi xốc nó lên, giữ bằng một tay trước mặt mình, dò xét mặt nó. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt nâu cảm kích rồi gặm mũi tôi. Tôi đẩy nó vào tay Jenny, nó cũng làm như thế với cô ấy.

- Nó có vẻ khoái chúng ta đấy. - Tôi thích thú.

Rồi điều gì đến cũng đến. Chúng tôi viết séc 350 đô-la cho Lori. Bà ta bảo chúng tôi có thể quay lại đón Con Chó Thanh Lý về nhà sau ba tuần nữa, khi nó được tám tuần tuổi và đã cai sữa. Chúng tôi cảm ơn Lori, ôm bà ta lần cuối, rồi nói lời tạm biệt.

Đi ra xe, tôi quàng tay qua vai Jenny, kéo cô ấy lại sát bên mình.

- Em có tin được không? Chúng ta thực sự đã có con chó của mình rồi!

- Em không thể đợi để mang nó về nhà mất. – Giọng cô ấy xúc động.

Vừa mới tới xe, chúng tôi nghe thấy tiếng rung chuyển phát ra từ khu rừng. Có thứ gì đó đang chạy rầm rập qua các bụi cây – và đang thở phì phò. Nghe như cảnh trong phim kinh dị. Nó đang tiến về phía chúng tôi. Chúng tôi chết lặng, chỉ còn biết nhìn chăm chăm vào bóng tối. Tiếng động mỗi lúc một lớn hơn, gần hơn. Trong chớp nhoáng, thứ đó vọt ra bãi đất trống, lao về phía chúng tôi. Một bóng mờ màu vàng. Một bóng mờ màu vàng to bự. Khi nó phi nước đại qua, không dừng lại, thậm chí dường như chẳng thèm để tâm tới chúng tôi, có thể thấy đó là một con chó tha mồi Labrador khổng lồ. Nhưng nó không giống như Lily dễ thương chúng tôi vừa mới âu yếm trong nhà. Con này ướt sũng, bụng trét đầy bùn và quả gai. Lưỡi nó vắt hẳn sang một bên, bọt mép rơi lã chã khỏi hàm khi nó chạy qua. Trong tích tắc, tôi thoáng nhận thấy một ánh nhìn kỳ lạ, hơi cuồng dại, không biết thế nào còn có vẻ phấn khích trong mắt nó. Như thể con vật này vừa trông thấy một con ma – và không thể bị kích động hơn vì điều đó.

Sau đó, với tiếng rống như của bầy trâu đang chạy toán loạn, nó vòng ra sau khu nhà, biến mất khỏi tầm nhìn. Jenny thở hắt ra.

- Anh nghĩ - Tôi nói, ruột vẫn hơi quặn quặn buồn nôn - Chúng ta vừa gặp Con Bố.

(Trích tiểu thuyết Marley và tôi, dịch giả Nguyễn Đức Cường, ChiBooks và NXB Văn hóa Sài Gòn thực hiện)

Theo Evăn.

 

Bài mới đăng

Ai đang xem

Hiện có 522 khách Trực tuyến

Bài viết liên quan

Lịch Bài viết

< Tháng 12 2009 >
Th Th Th Th Th Th Ch
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31